FECON tiếp tục trúng gói thầu xử lý nền dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1

Công ty CP Kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm FECON (FCN) tiếp tục nhận được thư thông báo trúng thầu từ công ty TOA Corporation cho gói thầu liên quan đến hạng mục xử lý nền cho dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 với tổng giá trị hợp đồng dự kiến gần 160 tỷ đồng, góp phần không nhỏ vào việc hiện thực hóa kế hoạch doanh thu năm 2014 của FECON.


Như vây, một lần nữa công nghệ xử lý nền bằng cố kết chân không mà FECON đã và đang triển khai áp dụng thành công cho hàng loạt dự án lớn từ Bắc đến Nam trong những năm gần đây, tiếp tục được các nhà thầu trong và ngoài nước lựa chọn áp dụng cho hạng mục xử lý nền của dự án do đáp ứng được 04 tiêu chí quan trọng là: Chất lượng được kiểm soát tuyệt đối; Tiến độ thi công được rút ngắn; Giá thành giảm và thân thiện môi trường.

Thông tin Dự án

Dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 do EVN làm chủ đầu tư, nằm trong Trung tâm điện lực Thái Bình. Trung tâm điện lực Thái Bình bao gồm 2 nhà máy nhiệt điện, với tổng quy mô công suất 1.800 MW, tại xã Mỹ Lộc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư).

Tổng mức đầu tư của dự án nhiệt điện Thái Bình 1 là 26,5 nghìn tỷ VND, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) là 85%, 15% còn lại là vốn đối ứng của EVN. Giá trị hợp đồng EPC được ký kết là 819,6 triệu USD và 20 tỷ Yên Nhật.

Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 sử dụng công nghệ nhiệt điện ngưng hơi truyền thống, lò hơi thông số cận tới hạn, là loại công nghệ đã được áp dụng nhiều trên thế giới. Nhà máy được áp dụng công nghệ hiện đại và đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế.

Theo kế hoạch, tổ máy đầu tiên của Nhà máy sẽ được đưa vào vận hành sau 43 tháng lắp đặt, xây dựng (dự kiến quý IV/2017), tổ máy thứ 2 dự kiến cuối quý II/2018

Khi đi vào hoạt động, Nhà máy hàng năm sẽ cung cấp cho hệ thống điện khoảng 3,276 tỷ kWh, góp phần cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội khu vực đồng bằng sông Hồng, qua đó góp phần giảm sự phụ thuộc của hệ thống điện vào nguồn thủy điện, đặc biệt vào mùa khô và các năm cạn kiệt, tăng tính an toàn, ổn định, kinh tế cho vận hành hệ thống điện…